“Thể nghiệm sau giao hợp” là gì và ý nghĩa với tình trạng vô sinh

loading...

Thể nghiệm trong giao hợp là một trong những hạng mục kiểm tra trong chứng vô sinh. Sau khi vợ chồng trẻ kết hôn, thường có đến 81% phụ nữ trong 1 năm có thai, có đến 90,5% phụ nữ trong 2 năm mang thai. Nếu sau khi kết hôn hai vợ chồng sống với nhau lâu dài, sinh hoạt tình dục bình thường, mà vẫn chưa có thai, sau hôn nhân 1 năm mà chưa có thai, nên đến bệnh viện kiểm tra.

Có mang thai hay không là do cả hai bên vợ chồng quyết định, do đó kiểm tra chứng vô sinh, phải tiến hành cả hai vợ chồng. Trình tự kiểm tra từ đơn giản đến phức tạp. Trước tiên: kiểm tra phụ khoa nữ giới, để xem cơ quan sinh sản nữ có phát triển bình thường hay không, có triệu chứng viêm nhiễm hay không… Tiếp theo làm “thực nghiệm thông ống dẫn trứng” và xác định nhiệt độ cơ thể, để xem có thời kỳ rụng trứng hay không. Xác định mức độ hoóc môn trong cơ thể… Nam giới làm kiểm tra bộ phận sinh sản, xem có phát triển bình thường, có dị tật hay không; làm hóa nghiệm tinh dịch… Khi những kiểm tra ở trên mà chưa phát hiện biểu hiện dị thường, lập tức làm “thực nghiệm sau giao hợp”. Y học gọi là “thực nghiệm kiểm tra sự tương tác của dịch nhầy tinh trùng và cổ tử cung”, gọi nôm na là: dịch nhầy cổ tử cung của người vợ tương tác hay bài xích tinh trùng của người chồng.

Dịch nhầy cổ tử cung đóng vai trò quan trọng trong quá trình mang thai. Sau khi tinh dịch được tiết vào âm đạo nữ giới, tinh trùng đi vào một môi trường sinh hoạt mới lạ mà khó chịu. Tinh trùng vốn tồn tại ở trong tinh dịch tính kiềm, còn âm đạo thì lại có tính axit yếu. Để trung hòa với tính axit trong âm đạo, một bộ phận tinh trùng phải hy sinh, tạo ra một con đường lưu thông để cho những tinh trùng còn sống tập trung lại hướng đến con đường thứ 2 – tiến công vào cổ tử cung. Cổ tử cung là con đường bắt buộc tinh trùng phải đi qua để đến ống dẫn trứng. Bình thường cổ tử cung do dịch nhầy hình thành nên “chỗ chắn”, giống như chiếc bình phong chắn ngang chặt chẽ miệng cổ tử cung, để phòng trừ vi khuẩn trong âm đạo vào tử cung. Đương nhiên, chỗ chắn dịch nhầy này có tác dụng ngoại lệ ngăn cản đối với tinh trùng. Vậy thì vì sao tinh trùng có thể đi vào miệng cổ tử cung, và có thể khiến phụ nữ mang thai? Vốn là, trước và trong thời kỳ rụng trứng của phụ nữ, do tác dụng của hoóc môn nội tiết của cơ thể, dịch này ở lỗ chắn dịch nhầy này trở nên loãng như lòng trắng trứng gà, phân tử dịch nhầy sắp xếp rất ngay ngắn, lộ rõ ra đường hầm bên trong. Thế là tinh trùng men theo đường hầm này không ngừng di chuyển lên trên. Những tinh trùng có sức hoạt động tốt, khỏe mạnh, nhanh nhẹn cuối cùng cũng qua được đường hầm dịch nhầy đến được khoang tử cung. Do đó, cửa chắn dịch nhầy cổ tử cung thực tế có tác dụng lựa chọn tinh trùng tốt. Đồng thời nó cũng là “trạm tiếp sức”, những tinh trùng vào được dịch nhầy có thể hấp thụ chất dinh dưỡng trong dịch nhầy, sau khi có được năng lượng, tiếp tục tiến công vào mục tiêu. Tốc độ của tinh trùng trong dịch nhầy cổ tử cung bình quân khoảng 30 micron/giây.

Một lần xuất tinh có khoảng 3 – 5 tỷ con tinh trùng ở xung quanh cổ tử cung, dịch nhầy cổ tử cung làm rơi rớt đa số tinh trùng, thậm chí chỉ có vài chục con tinh trùng, sau đó chỉ còn một con xâm nhập được vào trứng.

Thực nghiệm sau giao hợp được thiết kế căn cứ theo quy luật sinh lý ở trên. Thực nghiệm lựa chọn thời gian có lợi nhất tinh trùng đi qua trong dịch nhầy cổ tử cung, tức là tiến hành 1 – 2 ngày trước thời kỳ rụng trứng của nữ giới. Phương pháp như sau: sau khi giao hợp hai vợ chồng nằm thẳng khoảng 30 phút, sau đó làm kiểm tra trong 2 – 4 giờ, bác sỹ lấy dịch nhầy cổ tử cung của người vợ, quan sát dưới kính hiển vi, tính toán có bao nhiêu tinh trùng hoạt động xuyên trong dịch nhầy cổ tử cung. Nếu mỗi lần nhìn tại kính hiển vi, thấy khoảng hơn 20 con tinh trùng hoạt động là bình thường. Nếu không có tinh trùng đi qua dịch nhầy hoặc tinh trùng đi qua dịch nhầy đều chết hết, tức là dịch nhầy cổ tử cung của người vợ không có lợi cho tinh trùng tồn tại và hoạt động, hoặc một chất (kháng thể) trong dịch nhầy khiến tinh trùng mất đi năng lực hoạt động, nguyên nhân vô sinh cũng có thể liên quan đến điểm này.

Tìm được nguyên nhân vô sinh thì có thể lựa chọn phương pháp điều trị. Thứ nhất là dùng 2% dịch rửa sạch âm đạo, thay đổi độ axit của âm đạo, có lợi cho sự tồn tại và hoạt động của tinh trùng. Hai là trước thời kỳ rụng trứng, tức ngày thứ 5-13 của chu kỳ kinh nguyệt, mỗi ngày uống 0,05 mg Ethinylestradiol, có thể thay đổi thể trạng của dịch nhầy cổ tử cung, giúp tinh trùng dễ dàng đi qua. Ba là kháng thể ức chế trong dịch nhầy cổ tử cung, dùng bao tránh thai tránh thai nửa năm, để kháng thể trong dịch nhầy dần dần rút lui. Thứ 4 là dùng phương pháp thụ tinh nhân tạo, đưa tinh dịch của chồng đến tử cung của người vợ, giúp tinh trùng đi qua dịch nhầy cổ tử cung.

loading...

Leave a Reply